Home Tin Tức Áp lực bán ra mạnh trên thị trường chứng khoán

Áp lực bán ra mạnh trên thị trường chứng khoán

Home Tin Tức Áp lực bán ra mạnh trên thị trường chứng khoán

Áp lực bán ra mạnh trên thị trường chứng khoán

by VinaCapital_Admin

Hiện tượng bán ra ồ ạt trên thị trường chứng khoán của các nước mới nổi khởi nguồn từ việc tăng giá đồng đô la Mỹ, theo chỉ số đồng đô la (DXY) từ giai đoạn cuối tháng 4.

Trong tuần vừa qua, các quan ngại rằng đồng Nhân dân Tệ và thị trường chứng khoán Trung Quốc có dấu hiệu lặp lại đợt “nổ bong bóng” như giai đoạn năm 2015 và điều này đã làm suy yếu thị trường mới nổi bao gồm việc giảm 4.4% của chỉ số VN-Index (VNI) vào ngày thứ 3 tuần rồi – mặc dù Nhà nước Trung Quốc đã lên tiếng về việc không để đồng Nhân Dân Tệ giảm hơn 4% tính từ đầu năm nay.

Thị trường chứng khoán Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng thị trường giá xuống (bear market) của các thị trường mới nổi. Việc bán ra mạnh của nhà đầu tư Việt Nam chủ yếu do các yếu tố tác động bên ngoài, mặc dù trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà tăng trưởng tốt, và việc đồng Việt Nam liên tục được duy trì ở mức ổn định (chỉ giảm 1.8% tính từ đầu năm 2018), điều này nhờ vào cam kết của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (SBV) chỉ để đồng Việt Nam giảm ở mức 2%, và cũng trong bối cảnh thị trường Việt Nam gần như không chịu biến động bởi các yếu tố rủi ro cao trên các thị trường mới nổi khác.

Mặc dù trong tương lai gần việc dự đoán diễn biến của thị trường mới nổi và/hoặc đồng đô la, nhưng thị trường Việt Nam vẫn giữ vị thế tốt hơn so với các thị trường mới nổi ngang hàng để đủ sức đi qua “cơn bão”. Ở mức độ vừa phải thị trường vẫn có các vấn đề gây lo ngại, nhưng nhìn chung thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn được đánh giá cao hơn các thị trường mới nổi khác.

 

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC YẾU TỐ RỦI RO GÂY RA ĐỢT BÁN MẠNH CỦA CÁC THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI ĐẾN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

 

Các yếu tố như đồng đô la tăng giá, giá dầu tăng, và các vấn đề căng thẳng thương mại đã gây ra hiệu ứng lo ngại lan tỏa cho các nhà đầu tư vào thị trường mới nổi. Tính biến động gây ảnh hưởng đến thị trường Việt Nam bởi các yếu tố rủi ro này được mô tả cụ thể ở bảng dưới đây:

                      

 

CÁC RỦI ROKHẢ NĂNG GÂY BIẾN ĐỘNG LÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM
Thâm hụt tài khoản vãng lai·         Trong năm nay thị trường Việt Nam đạt tỷ lệ thặng dư tài khoản vãng lai so với GDP dự kiến ở mức 3%

·         Mức thâm hụt tài khoản vãng lai ở các thị trường Ấn Độ, Indonesia, và tỷ lệ thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức 10% GDP của Philippines đã gây ra sự sụt giảm giá trị tiền tệ của các nước này từ 6-8% tính từ đầu năm 2018

·         Việt Nam vẫn đang duy trì mức thặng dư tài khoản vãng lai trong 6 tháng vừa qua, đóng góp bởi việc tăng 8 lần khối lượng xuất khẩu mặt hàng công nghệ cao, xuất phát từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã đóng góp 7.5% vào GDP

Các khoản nợ công đồng USD·         Mức nợ nước ngoài của các công ty thuộc lĩnh vực tư nhân nằm chiếm khoảng 20% GDP

·         Tổng mức nợ công của Việt Nam vào khoảng 50% GDP, nhưng hầu hết khoản này đến từ các khoản nợ của Nhà Nước Việt Nam với Ngân Hàng Thế Giới/ADB/v.v… hoặc của các Công ty có vốn sở hữu của Nhà Nước

Việc Tăng Lãi Suất Ở Các Thị Trường Mới Nổi Châu Á·         Tỷ giá hối đoái thực của Việt Nam đang ở mức thấp hơn 2%, nhưng chính phủ vẫn có khả năng thắt chặt chính sách tiền tệ nếu đồng Việt Nam mất giá dưới 2.5% YTD

·         Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam đã lên tiếng hỗ trợ cho đồng Việt Nam nhằm ngăn chặn việc mất giá đồng tiền hơn 2% YTD; Ngân Hàng Trung Ương hiện vẫn đang nắm dự trữ ngoại hối ở mức 30% GDP (tương đương 64 tỷ đô la Mỹ)

·         Philippines, Indoneisa và Ấn Độ đã có các động thái tăng lãi suất trong năm 2018 để giảm đi sự suy yếu của đồng tiền nội

Căng Thẳng Thương Mại·         Mỹ rất khó có khả năng nhắm vào Việt Nam mặc dù quốc gia này luôn có tham vọng địa chính trị trong việc gây ảnh hưởng lên kế hoạch mở rộng lãnh thổ trên phạm vi khu vực của Trung Quốc

·         Theo Ngân Hàng Standard Chartered và một số tổ chức khác, suy cho cùng Việt Nam rất có khả năng là bên được hưởng lợi giữa diễn biến căng thẳng chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc

·         Khoảng 60% sản lượng nhập khẩu các mặt hàng công nghệ cao vào Mỹ đến từ Trung Quốc, nhưng chỉ 20% trên tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Mỹ là các mặt hàng điện tử, điện thoại thông minh, v.v…, điều này cho thấy một tiềm năng lớn việc dịch chuyển của nhu cầu sản xuất các mặt hàng điện tử này của Mỹ chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam

Giá Dầu·         Việt Nam vẫn luôn duy trì mức nhập khẩu năng lượng với tỷ lệ nhập ròng chiếm 1-2% GDP, so với tỷ lệ nhập khẩu xăng dầu/năng lượng chiếm 45%-75% GDP của các nước như Trung Quốc/Ấn Độ/Philippines và góp phần gây nên thâm hụt tài khoản vãng lai của các quốc gia này

·         Xăng dầu chiếm tỷ trọng tương đương 1% trong “rổ” hàng hóa của Việt Nam, ở mức tương đương so với các thị trường mới nổi khác

Dòng Chảy Ngoại Tệ do Kinh Doanh Chênh Lệch Lãi Suất “Carry Trade·         Trong bối cảnh đồng nội tệ mất giá, Ấn Độ và Indonesia hiện đang trải qua giai đoạn nhà đầu tư trước đó mong muốn kiếm lãi từ chênh lệch tỷ giá, nay ồ ạt chuyển tiền về lại các nước phát triển

·         Nhà đầu tư tài chính nước ngoài hiện đang nắm giữ một lượng lớn Trái Phiếu Chính Phủ Việt Nam so với giai đoạn đỉnh điểm trước đây nhà đầu tư nước ngoài nắm gần 50% trái phiếu chính phủ Indonesia

 

Ngoài các yếu tố rủi ro gây ra đợt bán mạnh đang diễn ra tại thị trường mới nổi kể trên, một số quốc gia cũng đang phải đối mặt với thử thách thâm hụt ngân sách nhà nước bởi việc sử dụng ngân sách hoang phí (Argentina và Brazil), hoặc bởi viện trợ giá xăng dầu (Ấn Độ).

 

Yếu tố rủi ro này của các thị trường mới nổi vẫn chưa ở mức lan rộng như hiện tượng “Taper Tantrum” của năm 2013 bởi các quốc gia phòng ngự yếu nhất (bao gồm Indonesia) và kể cả Việt Nam vẫn có thể đưa ra các biện pháp ngăn chặn các vấn đề do thâm hụt kép gây ra (cụ thể là thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai), điều này góp phần giảm thâm hụt ngân sách nhà nước từ 5% của GDP trong năm 2013 xuống chỉ còn 3.5% của GDP vào năm ngoái.

 

NỀN KINH TẾ MẠNH, VÀ BỀN VỮNG

 

Tăng trưởng GDP của Việt Nam đã tăng từ mức 5.7% trong nửa đầu năm 2017 lên mức 7.1% trong nửa đầu năm 2018, trong đó khoảng 1.4% của mức tăng lên so với nửa đầu năm ngoái được đóng góp bởi tăng trưởng của các ngành sản xuất, khai khoáng, và lĩnh vực nông nghiệp, và cũng góp phần xoay chuyển tình huống của Việt Nam từ việc thâm hụt cán cân thương mại chiếm 2.6% GDP của nửa đầu năm 2017 sang thặng dư thương mại chiếm 2.2% GDP trong nửa đầu năm 2018, và đóng góp vào việc tăng tiêu dùng của hộ gia đình lên mức 8.6% so với cùng kỳ năm ngoái, đóng góp 65% vào GDP. Tiềm năng tăng trưởng của nửa cuối năm 2018 vẫn sẽ ở mức cao; Người tiêu dùng Việt Nam xếp hạng thứ tư toàn cầu về mức độ lạc quan, theo một khảo sát gần đây của Nielsen, và khảo sát Chỉ Số Quản Lý Thu mua (PMI) của cả nước vào tháng 6 vừa qua cũng đạt mức tăng trưởng hằng tháng cao thứ hai trong năm nay, đạt mức 55.7 điểm PMI.

 

Quan Ngại Về Lạm Phát và Cán Cân Thương Mại

 

Mức tăng lên đột ngột của lạm phát dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 2.8% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 4 lên 4.7% so với cùng kỳ năm trước trong tháng 6 (cao nhất trong các nước ASEAN), đã gây ra tâm lý bất ổn cho nhà đầu tư, cũng như mức thâm hụt cán cân thương mại ở mức 900 triệu đô trong tháng 5 (và dự kiến thâm hụt 100 triệu đô trong tháng 6), mặc dù trước đó đã có một chuỗi 4 tháng liên tục từ tháng 1 đến tháng 4 có thặng dư thương mại. Mặc dù vậy, lạm phát hiện tại đang được hỗ trợ bởi mức ổn định của giá dầu, và bởi các yếu tố dẫn đến sự phân kỳ giữa lạm phát giá thực phẩm của Việt Nam và Trung Quốc.

Cả hai hiệu ứng này dự kiến sẽ giảm đi trong năm 2018, và sẽ góp phần mang lạm phát về lại mức dưới 4% vào cuối năm nay theo như mục tiêu của chính phủ. Giá xăng dầu hiện tại vẫn ở mức cao hơn 60% so với năm trước, nhưng mức tăng này sẽ được kiểm soát chỉ ở mức cao hơn 20% so với năm 2017 vào cuối năm nay, điều này giả định giá dầu vẫn sẽ tiếp tục được giữ ổn định ở mức hiện tại. Tiếp theo đó, giá của thực phẩm tại Việt Nam tăng lên 5% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng giá thực phẩm của Trung Quốc chỉ tăng lên 1% so với cùng kỳ, điều này có thể hạ nhiệt của giá thực phẩm trong nửa sau của năm 2018, bởi giá thực phẩm rẻ hơn từ Trung Quốc tạo ra ngưỡng trần cho giá thực phẩm trong nước.

Nhìn chung, số liệu thống kê về thương mại của Việt Nam qua mỗi tháng vẫn tiếp tục biến động, và nền kinh tế của Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục đạt thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vãng lai trong năm 2018 chiếm khoảng 3% GDP.

CÁC YẾU TỐ CỤ THỂ GÂY ẢNH HƯỞNG LÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN và ĐỒNG VIỆT NAM

Dòng vốn ngoại là yếu tố chỉnh đẩy tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian qua, mặc dù hiện tượng bán ra mạnh hiện tại cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại, và thiên hướng đầu tư theo dòng vốn ngoại của nhà đầu tư cá nhân trong nước (nhà đầu tư trong nước chiếm 85% tổng lượng giao dịch của thị trường). Dòng vốn vào thị trường được ước tính vào khoảng 3.7 tỷ đô chỉ trong nửa đầu năm 2018 (bao gồm 1.5 tỷ đô qua thị trường chứng khoán, và 2.2 tỷ đô giao dịch ngoài thị trường), so với mức bán ròng của khối ngoại trên thị trường Thái Lan (âm 5.6 tỷ đô), Indonesia (âm 3.6 tỷ đô) và Philippines (âm 1.2 tỷ đô).

Định giá hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam  so với các thị trường mới nổi tương đương ở khu vực ASEAN đang thúc đẩy dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường. Thị trường Việt Nam hiện nay đang được định giá ở mức 14.5 lần P/E dự tính (forward P/E), so với mức 16.4 lần của thị trường mới nổi ASEAN (bao gồm Thái Lan/Malaysia/Indonesia/Philippines), và thị trường chứng khoán Việt Nam có tỷ lệ PEG đạt 0.8 lần, so với mức 1.2 lần của các thị trường mới nổi trong khối ASEAN.

Kế hoạch chào bán ra công chúng (IPO) và thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước đóng góp một phần rất lớn vào dòng vốn đầu tư nước ngoài vô thị trường Việt Nam trong năm nay, điều này đem lại ảnh hưởng tích cực lên tâm lý của thị trường và củng cố đồng Việt Nam. Ví dụ như, việc săn đón cổ phiếu Techcombank, VP Bank, và HD Bank đem lại mức tăng trưởng vượt trội lên đến 26% cho khối ngân hàng đóng góp vào VN-Index tại thời điểm đỉnh của thị trường trong tháng 4. Tuy nhiên, việc lên sàn của các cổ phiếu Techcombank và/hoặc Yeah1, một công ty trong lĩnh vực công nghệ, cũng mở đầu cho một giai đoạn im ắng, không có thêm các đợt chào bán hấp dẫn vào thị trường mãi cho đến giai đoạn cuối năm nay.

 

Các đợt chào bán sôi động đến từ IPO/Cổ phần hóa/Thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước cộng lại trong giai đoạn nửa đầu năm 2018 đã góp phần nâng tổng số vốn huy động được lên mức 4.3 tỷ đô (so với lượng vốn huy động chỉ đạt 9.5 tỷ đô của các đợt Cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp Nhà nước trong giai đoạn 7 năm từ 2010-2017), tuy nhiên, các đợt IPOs sắp tới của OCB và VIB sẽ được trì hoãn lại, cũng như các công ty khác trong danh mục theo kế hoạch được cổ phần hóa của Nhà nước như Mobifone, Tổng công ty thuốc lá Việt Nam, và Tổng công ty Xi Măng Việt Nam.

 

Việc cổ phần hóa trong nửa đầu năm nay của các doanh nghiệp Nhà nước phần nào bị trì hoãn bởi mức định giá khá cao của Nhà nước, điều này làm cho các công ty mục tiêu trở nên kém hấp dẫn với nhà đầu tư chiến lược tầm cỡ lớn. Tỷ lệ chào bán thành công theo như mục tiêu đề ra của các công ty trong danh mục của Nhà nước như PV Gas, Vietnam Airlines, và Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV) có triển vọng hơn, đặc biệt là việc chào bán với tỷ lệ sở hữu ở mức bình quân khoảng 25% của công ty, và nhìn chung các công ty này về cơ bản là các công ty tốt, tuy nhiên, một trong những trở ngại sắp tới là các quy định của luật pháp không cho phép việc chào bán ở mức giá thấp hơn giá hiện hành của thị trường.

Đồng Nhân Dân Tệ mất giá gây ảnh hưởng phần nào đến tâm lý lên thị trường chứng khoán Việt Nam và tỷ giá hối đoái. Vào năm 2015, thị trường chứng khoán của Việt Nam tăng 20% vào thời điểm giữa năm, nhưng ngay sau đó đột ngột giảm mạnh 15% vào giai đoạn tháng 8 vì các lý do giảm giá đồng Nhân Dân Tệ của Trung Quốc. Chỉ số VNI trong năm đó cũng chỉ đạt 6%, là một năm tăng trưởng không mạnh của thị trường cổ phiếu và cũng góp phần vào việc giảm giá ~5% giá trị của đồng VND và đồng Nhân Dân Tệ so với đồng đô la Mỹ trong năm 2015.

Việc mất giá của đồng Việt Nam trong năm 2015, mặc dù các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vẫn duy trì vững mạnh, bao gồm: tăng trưởng GDP đạt 6.7%, lạm phát ở mức dưới 1%, và mức thặng dư thương mại khiêm tốn, và mặc dù nỗ lực chi ngân sách của Ngân Hàng Nhà Nước vào khoảng 6 tỷ đô cho dự trữ ngoại hối và ổn định nền kinh tế Việt Nam trước thềm Bầu Cử Quốc Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam đầu năm 2016.

Việc mất giá của đồng Nhân Dân Tệ gây ảnh hưởng một phần lên tâm lý chung của thị trường chứng khoán và thị trường tiền tệ của Việt Nam, nguyên do bởi góc nhìn chưa chính xác của phần đông người Việt về ảnh hưởng của việc mất giá đồng Nhân Dân Tệ lên nền kinh tế Việt Nam. Một trong những quan niệm sai lầm ở đây là việc thị trường Việt Nam sẽ hưởng ứng theo việc mất giá của đồng Nhân Dân Tệ bằng cách giảm giá đồng Việt Nam để giữ tính cạnh tranh trong quan hệ xuất khẩu song phương với Trung Quốc. Tuy nhiên, lương của công nhân ở Việt Nam chỉ tương đương 1/3 mức lương của công nhân tại Trung Quốc, và tỷ lệ tăng lương của cả hai quốc gia chỉ đạt mức 7%/năm, vì vậy việc mất giá của tỷ giá hối đoái VND-CNY có rất ít ảnh hưởng lên tính cạnh tranh về xuất khẩu của Việt Nam.

Tiếp theo đó, một số nhà quan sát thị trường đã sai lầm và tin rằng việc mất giá của đồng Nhân Dân Tệ trong tương quan với đồng Việt Nam sẽ càng làm cho thâm hụt thương mại 17 tỷ đô (chiếm 7.7% GDP) của Việt Nam với Trung Quốc càng tệ đi, vì vậy góp phần làm thâm hụt thêm cán cân thương mại của Việt Nam. Trên thực tế, việc tăng giá đồng Việt Nam so với đồng Nhân Dân Tệ sẽ góp phần giảm thâm hụt thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc bởi giá của các sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có lợi hơn cho phía Việt Nam. Đa số các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc là hàng hóa sản xuất và linh kiện sản xuất, vì vậy đồng Nhân Dân Tệ rẻ đi sẽ giúp giảm chi phí sản xuất của phía Việt Nam, điều này sau cùng sẽ đẩy mạnh xuất khẩu. Sau cùng việc này sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại cao hơn với Trung Quốc (thúc đẩy bởi việc nhập khẩu hàng hóa trung gian), nhưng cũng chỉ ảnh hưởng nhỏ lên cán cân thương mại của Việt Nam nói chung.

Giao Dịch Phái Sinh gia nhập vào thị trường Việt Nam cùng với việc đưa ra thị trường hình thức hợp đồng tương lai vào tháng 10 năm 2017. Mặc dù vẫn còn trong giai đoạn sơ khởi, và được mở đầu với các hình thức sản phẩm đơn giản (chứng quyền có đảm bảo sẽ được giới thiệu ra thị trường vào tháng 9), thị trường phái sinh đã góp phần ảnh hưởng lên biến động của thị trường chứng khoán gần đây, cũng như những gì đã diễn ra tại thị trường Trung Quốc khi tung ra sản phẩm phái sinh.

Bong bóng suy giảm Trái Phiếu Chính Phủ đang đóng góp vào sự suy yếu tâm lý thị trường mặc dù hành vi bất thường của thị trường trái phiếu Việt Nam trong năm 2017-18 không ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế hoặc thị trường chứng khoán (mức lãi suất thấp của trái phiếu kỳ hạn 10 năm gián tiếp gây ảnh hưởng lên giá cổ phiếu vì góp phần là yếu tố đầu vào của các mô hình định giá, nhưng các bên đầu cơ đang áp đảo giao dịch trên thị trường). Tóm lại trong thời gian vừa qua, lợi suất của trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm giảm xuống mức 4% vào đầu tháng 3, sau khi giảm 120 điểm tính từ đầu năm, nhưng lợi suất trái phiếu sau đó đã tăng trở lại về mức 4.75%. Việc tăng lại này một phần nhờ tín hiệu tăng chung của lợi suất trái phiếu ở các thị trường mới nổi; lợi suất trái phiếu chính phủ Indonesia tăng 140 điểm lên 7.7% trong năm nay nhờ vào hiệu ứng dòng tiền chạy ra khỏi thị trường này (do ảnh hưởng của dòng chảy ngoại tệ ra khỏi Indonesia do kinh doanh chênh lệch lãi suất “carry trade” đề cập ở phần trên). Thêm vào đó, thanh khoản siết chặt ở thị trường tiền tệ trong nước được đề cập trong ý tiếp theo, cũng làm giảm giá trái phiếu.

Lãi suất liên ngân hàng thấp góp phần ảnh hưởng đến bong bóng Trái phiếu chính phủ đề cập trên đây, nhưng tỷ giá liên ngân hàng đang tăng trở lại bởi lý do Ngân Hàng Nhà Nước đã liên tục giảm thanh khoản từ hệ thống ngân hàng để đối đầu với việc tăng lạm phát gần đây; Ngân Hàng Nhà Nước đã bơm hơn 6 tỷ đô từ thị trường liên ngân hàng chỉ riêng trong tháng 6. Hơn nữa, nguồn thanh khoản dồi dào này trung hòa thêm việc tích lũy dự trữ ngoại hối từ việc IPOs/Tư nhân hóa/Thoái vốn Doanh nghiệp Nhà nước kể trên, tuy nhiên nguồn dự trữ ngoại hối cũng không dồi dào thêm trong thời điểm hiện tại.

Tóm lược lại tình huống đang diễn ra, nhà đầu tư nước ngoài mang đồng đô la vào Việt Nam để chi trả cho việc mua các công ty cổ phần hóa như Sabeco (ThaiBev bỏ ra 4.8 tỷ đô để mua 53% cổ phần SAB). Những nguồn tiền đô đáng kể này làm tăng thêm dòng chảy vào thị trường hiện tại của đồng đô la dưới hình thức vốn đầu tư gián tiếp (FDI) (chiếm 7-8% GDP), và kiều hối (chiếm 4-5% GDP), cũng như từ thặng dư thương mại chiếm 2-3% của GDP trong nửa đầu năm 2017 và 2018. Số vốn đầu tư khổng lồ này từ nước ngoài vào thị trường đã thúc đẩy Ngân Hàng Nhà Nước tăng dự trữ ngoại hối lên 13 tỷ đô trong năm vừa qua, và lên 11 tỷ đô trong năm 2018, nâng tổng dự trữ ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước lên 63.5 tỷ đô vào thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà Nước đã chi trả cho dự trữ ngoại hối bằng việc in thêm tiền Việt Nam, điều này làm cho thanh khoản liên ngân hàng tăng và giảm tỷ giá liên ngân hàng xuống mức dưới 2% gần như liên tục trong năm vừa qua.

Không có yếu tố nào kể trên gây ra ảnh hưởng mạnh lên nền kinh tế Việt Nam hoặc gây ảnh hưởng lên tăng trưởng cho vay của ngân hàng đến các cá nhân vay, nhưng nhiều nhà đầu tư chứng khoán vẫn tin rằng việc tỷ giá liên ngân hàng tuy chỉ đang ở mức quanh 1% sẽ khó tránh khỏi tăng lên và sẽ gây tâm lý hoang mang trên thị trường chứng khoán.

 

Phần bù thanh khoản (liquidity premiums) giữa các cổ phiếu hiện đang phân định bên thắng cuộc và thua cuộc trên thị trường còn cao hơn so với trước đây. Ví dụ, trong ngành ngân hàng, các cổ phiếu có lượng giao dịch hằng ngày lớn, có sẵn “room” cho nhà đầu tư nước ngoài, và các thị trường vốn hóa lớn đang được giao dịch ở mức P/B cao hơn khoảng 30% so với các cổ phiếu ít hấp dẫn hơn trong cùng ngành. Mức định giá trên phần bù thanh khoản này tồn tại ở các cổ phiếu ngân hàng mặc dù dự báo kinh doanh của các cổ phiếu thanh khoản thấp hơn vẫn được đánh giá cao hơn so với các cổ phiếu ngân hàng có vốn hóa lớn, thanh khoản cao.

 

Giới hạn sở hữu nước ngoài (FOL) đối với phần lớn các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam là 49% (một số công ty đã chọn việc tăng tỷ lệ giới hạn sở hữu nước ngoài lên 100%, và tất cả các cổ phiếu nhóm ngân hàng đều nằm trong nhóm giới hạn sở hữu nước ngoài 30%). Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài muốn mua những cổ phiếu đã đạt tới giới hạn sở hữu nước ngoài (như ACB, PNJ, và FPT) chỉ có thể gia tăng sở hữu thông qua việc mua giá cao hơn từ các nhà đầu tư nước ngoài khác (tỷ lệ phần giá cao hơn khác nhau giữa các cổ phiếu nhưng vào khoảng 7% đối với cổ phiếu ACB).

 

Điều này đồng nghĩa với việc phần lớn các giao dịch cổ phiếu diễn ra ngoài sàn chứng khoán, và phần nhu cầu tăng thêm của nhà đầu tư nước ngoài không tạo ra ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu mà nhà đầu tư theo dõi qua bảng điện. Ví dụ, tổng giá trị giao dịch của thị trường Việt Nam vào khoảng 3.7 tỷ đô tính từ đầu năm 2018, nhưng trong đó chỉ 1.5 tỷ đô là giao dịch thông qua thị trường và ước tính phần còn lại là các giao dịch bên ngoài sàn.

 

Một giải thích nữa đối với hiệu ứng của phần bù thanh khoản là giới hạn các cổ phiếu tự do giao dịch vì mức sở hữu nước ngoài hạn hẹp, cũng như bởi các trường hợp thoái vốn chỉ một phần các doanh nghiệp nhà nước. Hai ví dụ điển hình là Sabeco, chỉ cho phép 5% tỷ lệ cổ phiếu tự do giao dịch bởi việc phần lớn cổ phần được sở hữu bởi ThaiBev, và PV Gas chỉ cho phép 4% tỷ lệ cổ phiếu tự do giao dịch bởi nhà nước vẫn đang nắm giữ tỷ lệ 96%. Một số nhà đầu tư đã theo dõi các khoảng phân kỳ này qua các chuyển biến từng ngày của VN-Index, và cách tính này chỉ dựa trên vốn hóa của các công ty trên sàn HOSE và chỉ số VN30, và danh mục VN30 cũng xem xét tỷ lệ cổ phiếu tự do giao dịch của các cổ phiếu trên sàn HOSE. Danh mục VN30 được cho ra đời với mục đích là một danh mục dễ mô phỏng theo, do đó phù hợp với các quỹ ETFs (không quỹ ETF nào mô phỏng theo toàn bộ VN-Index, điều này phần nào là do vấn đề tỷ lệ cổ phiếu tự do giao dịch).

 

Thông Báo Miễn Trừ Trách Nhiệm

Những thông tin trong đây do Công ty cổ phần quản lý Quỹ VinaCapital (“Công ty”) soạn thảo và có thể được cập nhật, hoàn chỉnh, sửa đổi, điều chỉnh và xác nhận thêm mà không cần phải thông báo.

Các thông tin trong tài liệu này không có bất kỳ hàm ý hay chỉ dẫn là đã được phê duyệt bởi bởi cơ quan có thẩm quyền. Thông tin không cấu thành hoặc hình thành nên một phần của bất kỳ chào bán nào hoặc gạ gẫm mua hoặc đăng ký mua bất kỳ cổ phiếu nào cũng như không tạo thành cơ sở hoặc liên quan đến hoặc hành động như là sự thuyết phục tham gia vào bất kỳ hợp đồng hoặc cam kết dưới bất kỳ hình thức nào. Đối với những thông tin dự báo dựa trên việc ước lượng hoặc ý kiến của Công ty tại thời điểm thông tin được đưa ra, Công ty sẽ không có nghĩa vụ xác nhận hoặc cập nhật những thông tin trong tương lai nếu sự ước lượng hoặc ý kiến về tình huống hoặc quản lý thay đổi.

Không có bất kỳ sự cam đoan, cam kết, bảo đảm hoặc chắc chắn nào dù là rõ ràng hay ngụ ý được đưa ra bởi hoặc thay mặt Công ty hoặc các giám đốc, nhân viên, đối tác, người lao động, đại lý hoặc bên tư vấn hoặc bất kỳ người nào khác về sự chính xác hoặc hoàn chỉnh của những thông tin và ý kiến nêu ra tại đây và những người nói trên cũng sẽ không có bất kỳ trách nhiệm hoặc nghĩa vụ nào đối với những thông tin hoặc ý kiến này hoặc đối với bất kỳ lỗi, thiếu sót, tuyên bố sai, bất cẩn hoặc vấn đề nào khác đối với bất kỳ thông tin liên lạc nào bằng văn bản hoặc bằng cách khác.

Những thông tin này không được sao chép, chuyển giao lại cho bất kỳ người nào hoặc phát hành toàn bộ hoặc một phần vì bất kỳ mục đích gì. Thông qua việc chấp nhận văn bản này, Quý khách hàng đồng ý bị ràng buộc bởi những hạn chế nêu trên.

Không có trang nào hoặc bản sao nào được thực hiện hoặc chuyển đi hoặc giao trong phạm vi bất kỳ quyền tài phán nào nơi mà việc chuyển giao những tài liệu đó bị cấm theo luật chứng khoán hiện đang áp dụng. Việc không tuân thủ những hạn chế này có thể dẫn đến việc vi phạm luật chứng khoán quốc gia.